Công tác đối ngoại tại Bệnh viện Quân y 175

Bệnh viện Quân y 175 chính thức triển khai mạnh mẽ các hoạt động hợp tác quốc tế và đào tạo nước ngoài từ năm 2013 bằng hai Bản ghi nhớ Hợp tác với Tập đoàn Singhealth (Singapore) vào tháng 1 và Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) vào tháng 7.

Kể từ đó đến nay, Bệnh viện đã ký kết tổng cộng 02 Bản ghi nhớ Hợp tác với đối tác Australia (Đại học Sydney – Quỹ Học Mãi Việt Nam – Australia và Tập đoàn ICON); 05 với các đối tác Nhật Bản (Đại học Kagawa, Hiệp hội Bác sĩ Châu Á AMDA, Bệnh viện Đa khoa Saiseikai, Công ty Sayasouken và Viện dưỡng lão Akane); 03 với các đối tác CHLB Đức (Đại học Leipzig, Đại học Rostock, Trung tâm Phục hồi Chức năng Klinik); 06với các đối tác Hàn Quốc (Bệnh viện Trung tâm Y khoa Gil- ĐH Gachon, Bệnh viện Wonju Severance Christian, Bệnh viện Đại học Ulsan, Bệnh viện Đại học Eulji, Bệnh viện Bundang, Bệnh viện Đại học Quốc gia Chungbuk); 01 với đối tác Hoa Kỳ (IGOT – Viện Chấn thương Chỉnh hình Toàn cầu); 01 với đối tác Ấn Độ (Đại học Sharda). Dự kiến năm 2018, sẽ tiếp tục ký kết hợp tác với Bệnh viện Cheil (Hàn Quốc); Tập đoàn IMS (Nhật Bản); Bệnh viện Saint Georg và Trung tâm Chấn thương – ĐH Leipzig (CHLB Đức); Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Đại học Stanford (Hoa Kỳ). Những bản ghi nhớ hợp tác này là cơ sở quan trọng cho chương trình trao đổi chuyên môn, đào tạo tại chỗ và nước ngoài cũng như tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề thường niên quy mô quốc tế.

Đối với đào tạo nước ngoài, hiện nay chủ yếu là các chương trình ngắn hạn từ 3 ngày – 6 tháng, dưới hình thức quan sát (observation); số lượng từ 1-4 học viên/ chương trình. Hầu hết các chương trình phía đối tác đài thọ kinh phí đào tạo (chi phí này rất lớn) và kinh phí tổ chức quản lý chương trình; một số khóa phía đối tác đài thọ vé máy bay hoặc chỗ ở hoặc các bữa ăn. Một số chương trình đào tạo được đài thọ toàn phần do Bộ Y tế đưa về, học viên phải ứng tuyển và thi/phỏng vấn (các khóa học về quản lý y tế hoặc ngoại ngữ chuyên ngành).

Dưới đây là kết quả đạt được và các đánh giá cùa cơ quan Đào tạo.

– Số lượng cán bộ nhân viên được đi đào tạo nước ngoài tăng theo từng năm, cao nhất là năm 2016 với 45 người (chưa tính các chương trình đào tạo theo chỉ tiêu của Bộ Quốc phòng do đoàn 871 quản lý). Tổng số lượt đi đào tạo tại nước ngoài từ năm 2013-2017 là 41 với 130 cán bộ, nhân viên; trong đó BS:88 (68%), ĐD: 22 (17%), KS: 11 (8 %), KTV: 4 (3%), Khác (Trợ lý, nhân viên): 5 (4%).

– Số lượng Điều dưỡng được tham gia các chương trình đào tạo nước ngoài tăng mạnh trong năm 2016-2017 (lần lượt là 12 và 15 người), trong đó năm 2017 số lượng xấp xỉ số bác sĩ đi học nước ngoài, và tham gia các khóa đào tạo thời gian tương đối dài (11 tuần), với yêu cầu cao về tiếng Anh chuyên ngành và khả năng nghiên cứu khoa học.

– Số lượng các chương trình đào tạo tự khai thác chiếm đa số, chỉ có 14 chương trình được đài thọ hoàn toàn (ngắn hạn, số lượng học viên ít).

– Số lượng các chương trình đào tạo chuyên ngành y chiếm đa số: 61 chương trình; đào tạo ngoại ngữ: 07, điều dưỡng: 02, Cấp cứu thảm họa và GGHB: 03, Khác: 04.

– Trong số các chương trình đào tạo, có 01 chương trình đào tạo bằng cấp (Thạc sĩ về Xạ trị Ung thư tại Đài Loan) trong thời gian 02 năm, 01 chương trình đào tạo Gây mê tương đương thạc sĩ trong thời gian 01 năm; còn lại là các khóa ngắn hạn (từ 03 ngày – 120 ngày). Các khóa 120 ngày là khóa tiếng Anh quân sự đào tạo tại DITC (Australia). Một số chương trình yêu cầu phải phỏng vấn/thi nên chất lượng đầu vào khá tốt.

– Về đào tạo chuyên môn y khoa: Có 02 đợt đào tạo 90 ngày tại Hàn Quốc về Chấn thương; 01 đợt 90 ngày tại Nhật Bản về PT Bụng; 01 đợt đào tạo 60 ngày tại Hàn Quốc các chuyên ngành: Theo báo cáo thực tế của các học viên, chủ yếu quan sát, đi theo các bác sĩ hướng dẫn và tham gia các buổi họp chuyên môn tại Bệnh viện, rất ít trường hợp được thực hành trên bệnh nhân/ tham gia phẫu thuật (do không đủ điều kiện ngoại ngữ và không có chứng chỉ hành nghề tại nước bạn, nếu được tham gia phẫu thuật hay thăm khám bệnh là do sự bảo lãnh, giám sát của Giáo sư hướng dẫn). Chưa có trường hợp nào học được kỹ thuật mới và áp dụng tại Bệnh viện. Đối với một số khóa yêu cầu xây dựng dự án ứng dụng sau khóa học như Học Mãi, phần trình bày ý tưởng tại Australia được các giáo sư đánh giá cao, tuy nhiên vẫn chưa được triển khai thực hiện tại BV do nhiều lý do khách quan và chủ quan. Tới nay, cũng chưa đưa ra được một đánh giá nào về trình độ chuyên môn/kỹ năng của học viên sau khi được đi đào tạo nước ngoài về (tốt lên/ kém đi/ khả năng thể hiện tại Khoa về chuyên môn, nghiên cứu khoa học…).

Chương trình đào tạo về Suy tim bước đầu có hiệu quả: Với 03 kíp của năm 2016 (03 BS, 3 ĐD) và 02 kíp của năm 2017 (02 BS, 2 ĐD): Các kíp tham gia đào tạo và đội ngũ tại Khoa tham gia xây dựng dữ liệu về bệnh nhân suy tim tại BV và Việt Nam, làm cơ sở cho nghiên cứu của các giáo sư Singapore, các kết quả được công bố dưới dạng poster tại Hội nghị Suy tim Châu Âu diễn ra tại Áo tháng 5 năm tới. BS Phạm Toàn Trung khoa A2 đại diện nhóm và Bệnh viện tham dự cùng giáo sư Singapore.

– Về ngoại ngữ: Các chương trình đào tạo ngoại ngữ tại nước ngoài thật sự có hiệu quả:

+ Đối với 07 bác sĩ tham gia khóa 4 tháng tại DITC: 02 bác sĩ sau đó được chọn cho chương trình Học Mãi; 01 bác sĩ được chọn học 01 năm tại Thái Lan về Gây mê. Có 01 bác sĩ có IELTS 6.0, 01 bác sĩ IELTS 5.5 và 01 Bác sĩ IELTS 5.0 với xuất phát điểm tiếng Anh rất hạn chế.

+ Đối với 14 bác sĩ, điều dưỡng tham gia khóa đào tạo tiếng Anh tại Ấn Độ: 100% đạt chứng chỉ PEARSON được công nhận toàn cầu; sau khóa học nhiều bác sĩ, điều dưỡng đủ điều kiện tham gia các khóa học có yêu cầu cao như Học Mãi (06/14, trong đó có 05 điều dưỡng), Nhật Bản (01 điều dưỡng). Hiện nay có 01 điều dưỡng đạt IELTS 5.0 và 01 điều dưỡng đạt IELTS 5.5 đã từng tham gia khóa học này.

+ Đối với các khóa ngoại ngữ và chuyên ngành khác: Tất cả đều có khả năng tiếng Anh tốt, đáp ứng được yêu cầu công việc cũng như học tập nâng cao (Trình độ Thạc sĩ) và tham gia nhiệt tình, tích cực các công việc đối ngoại của Bệnh viện.

Đánh giá chung:

* Điểm được lớn nhất của các khóa đào tạo nước ngoài là nâng cao trình độ ngoại ngữ (giao tiếp và chuyên ngành), nhiều bạn có khả năng phiên dịch/biên dịch và dẫn đoàn tại các sự kiện chuyên môn trong và ngoài nước, trở thành cộng tác viên của bộ phận đối ngoại Bệnh viện; thay đổi tư duy và phương pháp thực hành chuyên môn tại nơi công tác do được làm việc trong môi trường quốc tế chuyên nghiệp, hiện đại, tại các quốc gia có nền y tế và công nghệ phát triển cao; mở rộng mạng lưới quan hệ trong lĩnh vực chuyên môn cũng như các lĩnh vực khác; gia tăng khả năng tiếp cận với các cơ hội học tập nâng cao tại nước ngoài (học tập nâng cao trình độ; tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế; tham gia các dự án nghiên cứu quốc tế và xuất bản các bài báo nghiên cứu trong nước và quốc tế có giá trị).

* Điểm hạn chế: Không học được kỹ thuật mới, tính ứng dụng thực tế chưa cao. Nhiều trường hợp được cử đi học nhưng chưa nhận thức đó là vinh dự, trách nhiệm mà coi đó là “gánh nặng”, “bị ép buộc” nên hiệu quả còn kém. Nhiều chương trình đào tạo chưa sát với định hướng phát triển chuyên môn của Bệnh viện, bị động và phụ thuộc vào đề xuất của phía đối tác.

– Kinh phí cho đào tạo nước ngoài khá lớn, nhưng chủ yếu là do chi phí đi lại (vé máy bay, phí phương tiện tại nước sở tại), sinh hoạt phí – đều do Bệnh viện đài thọ; hầu hết đều được tài trợ chi phí đào tạo do có sự đàm phán ngay từ đầu với các đối tác.

– Một số mức chi theo quy định còn thấp, chưa phù hợp với thực tế sinh hoạt phí tại nước ngoài.

– Từ năm 2013 đến đầu năm 2016: Chỉ có một điều phối làm đầu mối các chương trình hợp tác, bao gồm việc liên hệ, thảo luận, xây dựng kế hoạch chương trình, đàm phán các điều khoản liên quan, tổ chức thực hiện và phối hợp cùng với đối tác giám sát quá trình đào tạo và đánh giá (theo form mẫu của đối tác cũng như qua báo cáo tuần/tháng của các học viên).

– Từ đầu năm 2016 đến nay: Đã thành lập một nhóm điều phối gồm 03 thành viên (02 sĩ quan và 01 nhân viên hợp đồng): thực hiện công việc theo chỉ đạo của chỉ huy Trung tâm và Ban Giám đốc Bệnh viện; chủ động phân công công việc theo nhóm đối tác, thông tin về một đầu mối chính trước khi báo cáo chỉ huy cấp trên.

– Công tác điều phối đến nay được đánh giá tốt, phối hợp chặt chẽ với Phòng Chính trị (Ban Cán bộ & Ban Bảo vệ An ninh), Ban Quân lực, Phòng Tài chính và các K,P,B,TT có nhân sự đi học.

– Công tác quản lý các chương trình đào tạo nước ngoài hiện nay đang được hiểu và tổ chức theo hình thức: trước, trong và sau.

+ Trước khi đi đào tạo: Quản lý toàn bộ hồ sơ, giấy tờ cá nhân liên quan đến nhân sự được cử đi đào tạo (CV, hộ chiếu, kế hoạch học tập, hồ sơ khám sức khỏe và các giấy tờ khác do cơ sở đào tạo và cơ quan xuất nhập cảnh yêu cầu). Quản lý toàn bộ kế hoạch đào tạo, dự trù kinh phí, quyết định của Bộ Quốc phòng và Bệnh viện Quân y 175 về việc cử nhân sự đi đào tạo tại nước ngoài.

+ Trong quá trình đào tạo tại nước ngoài: Yêu cầu, hướng dẫn các học viên làm báo cáo tuần/tháng tùy theo thời lượng của chương trình (đối với các chương trình đào tạo tại Hàn Quốc thường có form báo cáo riêng bằng tiếng Anh). Thường xuyên liên lạc với điều phối viên đối tác để nắm tình hình sinh hoạt, học tập, kịp thời xử lý, giải quyết các vấn đề xảy ra (như trường hợp tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, CHLB Đức, Australia).

+ Sau khi kết thúc quá trình đào tạo tại nước ngoài:

* Về phía học viên: Học viên được yêu cầu, hướng dẫn làm báo cáo cuối khóa (bằng tiếng Việt) gửi Trung tâm HL-ĐT và Ban Cán bộ; làm báo cáo (ppt) tại các buổi sinh hoạt khoa học thường kỳ của Bệnh viện. Yêu cầu các học viên viết bản tường trình/ bản kiểm điểm đối với các vụ việc xảy ra trong quá trình sinh hoạt, học tập tại nước ngoài để tổng hợp, báo cáo Ban Giám đốc.

* Về phía cơ quan Đào tạo: Viết thư cảm ơn/ phản hồi/ đề xuất về chương trình đào tạo gửi đối tác. Tổng hợp hóa đơn, chứng từ liên quan đến chương trình đào tạo để hoàn tất thủ tục thanh, quyết toán theo quy định. Đôn đốc các học viên chuẩn bị báo cáo và lên lịch sinh hoạt khoa học.

– Công tác đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo: Chưa thực hiện được vì chưa xây dựng được bộ công cụ đánh giá và các tiêu chí đánh giá. Chỉ có thể đánh giá được phần nào khả năng tiếng Anh (chuyên ngành) của học viên để làm cơ sở cho các chương trình đào tạo tiếp theo.

theo tin BV175

Trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai, các trường bắt buộc được đánh dấu * Your email address will not be published, required fields are marked

Scroll to top