Đau mắt đỏ : Nguyên nhân, triệu chứng và những điều cần lưu ý
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Đại tá, BSCKII Đỗ Tùng Lâm - Chủ nhiệm Khoa Mắt; Trung tá, BSCKII Lê Quang Thụy – Khoa mắt , Bệnh viện Quân y 175.
1.Đau mắt đỏ là gì?
- Đau mắt đỏ (Viêm kết mạc) là tình trạng viêm nhiễm mắt thường gặp do vi khuẩn, virus hoặc dị ứng gây ra. Đau mắt đỏ xảy ra khi xảy ra khi lớp màng trong suốt trên bề mặt nhãn cầu (lòng trắng mắt) và kết mạc mi gặp phải tình trạng viêm nhiễm.
- Bệnh dễ lây và lan truyền nhanh chóng tạo thành “bệnh dịch đau mắt đỏ” trong các khu tập thể như trường học, trại quân đội, nhà máy, công xưởng…Đa số bệnh thường tự giới hạn và không để lại di chứng. Tuy nhiên, một số trường hợp chẩn đoán nhầm, điều trị không đúng cách hoặc tính chất nghiêm trọng của một vài chủng virus mà có thể đe dọa đến thị lực.
- Bệnh thường khởi phát đột ngột, lúc đầu ở một mắt sau lan sang mắt còn lại. Cho đến nay chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và những người bị đau mắt đỏ rồi vẫn có thể bị nhiễm lại chỉ sau vài tháng khỏi bệnh.
Hình ảnh đau mắt đỏ
- Viêm kết mạc do virus có thể là do adenovirus, herpes simplex, Epstein-Barr, varicella zoster, molluscum contagiosum, coxsackie và enterovirus. Adenovirus và Enterovirus là nguyên nhân gây ra dịch đau mắt đỏ thường gặp.
- Viêm kết mạc do virus Adenovirus là một nguyên nhân phổ biến gây ra dịch đau mắt đỏ (viêm kết giác mạc, họng, hạch) và thường xuất hiện các triệu chứng như: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, có ghèn dính mí mắt khó mở, nổi hạch trước tai hoặc dưới hàm. Viêm kết mạc này rất lây và thường lan truyền thông qua trường học hoặc những nơi đông đúc chật chội khác. Nó thường gây ra bỏng rát, đỏ mắt với chất tiết là nước. Thường bị hai bên mắt cùng một lúc. Người bệnh thường phải nghỉ học, nghỉ làm…. Để tránh lây lan cho người khác.
- Các triệu chứng bệnh có thể bao gồm:
- Cảm giác có thứ gì đó ở trong mắt bạn, hoặc cảm giác khó chịu trong mắt bạn
- Mắt đỏ
- Cay mắt
- Ngứa mắt hoặc bỏng rát trong mắt
- Đau mắt
- Chảy nước mắt
- Phù mi mắt (sưng mi mắt)
- Mờ mắt hoặc lóa mắt
- Cực kỳ nhạy cảm với ánh sáng
- Nhiều chất nhầy, mủ hoặc dịch tiết màu vàng đặc từ mắt của bạn. Có thể có rất nhiều lông mi của bạn dính vào nhau.
- Sưng đau hạch trước tai.
- Lây trực tiếp từ người bị bệnh dịch đau mắt đỏ do tiếp xúc trực tiếp với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, thường là qua tiếp xúc bằng tay - mắt, nói chuyện, ôm hôn, hoặc bắt tay.
- Lây từ mắt bệnh sang mắt lành của chính người đó.
- Lây gián tiếp qua bề mặt bị nhiễm tiếp xúc với dịch bài tiết như khăn lau mặt, chậu rửa mặt, khăn tắm, áo gối, khăn trải giường, mặt bàn, bồn rửa, tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại, đồ chơi.
- Sử dụng nguồn nước nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, hoặc bể bơi.
- Thói quen sờ mắt, đặt tay vào mũi hoặc miệng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
Khi bị đau mắt đỏ, bạn cần chú ý vệ sinh mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý Nacl 0,9%
4. Phòng ngừa bệnh dịch đau mắt đỏ- Nguy cơ lây truyền từ 10% đến 50%. Vệ sinh cơ bản là đủ để tránh lây nhiễm cho người khác hoặc mắt khác. Thực hiện theo các cách sau để không lây nhiễm cho người khác hoặc tự lây nhiễm lại.
- Dùng khăn sạch mỗi ngày: Dùng khăn hoặc khăn giấy sạch mỗi lần lau mặt và mắt. Không dùng chung khăn tắm, khăn tay và vứt khăn giấy sau mỗi lần sử dụng. Thay khăn trải giường, áo gối và khăn tắm hàng ngày.
- Rửa tay rất thường xuyên bằng nước sạch và xà phòng. Luôn luôn rửa chúng trước và sau khi ăn, khi đi vệ sinh hoặc sau khi hắt hơi hoặc ho. Đặc biệt là sau khi nhỏ/tra thuốc vào mắt, hay chạm vào mắt.
- Tránh không chạm tay vào mắt. Nếu có hãy rửa tay ngay lập tức.
- Thường xuyên làm sạch và khử trùng các đồ vật và các bề mặt hay được chạm vào: mặt bàn, bồn rửa, tay nắm cửa.
- Đừng chia sẻ bất cứ điều gì chạm vào mắt như vứt bỏ bất kỳ trang điểm đã sử dụng trong khi bị đau mắt đỏ; Không đeo kính tiếp xúc cho đến khi mắt trở lại bình thường.
- Tránh các hoạt động tụ tập đông người, không sử dụng bể bơi công cộng.
- Tránh tiếp xúc với người người khác khi bị bệnh dịch đau mắt đỏ.
- Điều trị bệnh dịch đau mắt đỏ nhằm vào 3 mục tiêu tại mắt là Diệt hoặc giảm các triệu chứng và dấu hiệu ở kết mạc; Ngăn ngừa hoặc giảm thiệt hại cho bề mặt mắt; Phục hồi chức năng mắt bình thường; và mục tiêu cộng đồng là tránh lây lan thành dịch.
- Tránh tùy tiện sử dụng Corticosteroid vì có thể gây độc tính, loét giác mạc có thể kéo dài nhiễm Adenovirus và làm nặng hơn nhiễm Herpes Simplex Virus, sử dụng kéo dài gây tăng nhãn áp và đục thể thủy tinh.
- Điều trị bệnh dịch đau mắt đỏ là điều trị triệu chứng, không có phương pháp điều trị chuyên biệt. Cơ thể tự chống lại virus và khỏi bệnh. Đôi khi cần phòng ngừa nhiễm khuẩn kèm theo có thể sử dụng kháng sinh nhỏ mắt. Tuy nhiên sử dụng kháng sinh bừa bãi có thể gây ra chủng vi khuẩn kháng thuốc và gây độc tính trên mắt. Nước mắt nhân tạo là một lựa chọn phù hợp để giảm khó chịu tại mắt và dễ dàng chấp nhận hơn. Rửa mắt bằng nước muối sinh lý thường xuyên giúp loại bỏ chất tiết bẩn trong mắt, giúp bệnh mau hồi phục.
- Các phương pháp hỗ trợ khác như vệ sinh mắt: Sử dụng một miếng gạc lạnh hoặc ấm đắp lên mắt. Sử dụng khăn lau (sạch, khác nhau) hoặc bông thấm nước sạch cho mỗi mắt/mỗi lần để tránh lây lan bất kỳ nhiễm trùng nào, làm sạch mắt (chất tiết), nhắm mắt và lau từ bên trong ra bên ngoài vùng mắt.
Ngứa mắt, chảy nước mắt là dấu hiệu ban đầu của bệnh đau mắt đỏ
6. Các câu hỏi thường gặp 6.1.Tình hình dịch đau mắt đỏ như thế nào?- Theo HCDC tính từ đầu năm 2023 đến ngày 31/8, tổng số ca bệnh viêm kết mạc (đau mắt đỏ) ghi nhận tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố là 63.309 ca, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm 2022 là 53.573 ca. Trong tổng số 63.039 ca bệnh, 1.001 ca có biến chứng, chiếm 1,59% (cùng kỳ năm 2022 là 873 ca biến chứng, chiếm 1,63% tổng số ca bệnh). Các biến chứng của bệnh viêm kết mạc thường gặp gồm: viêm giác mạc, loét giác mạc, sẹo giác mạc, bội nhiễm, suy giảm thị lực,… .
- Số trẻ em dưới 16 tuổi bị mắc bệnh viêm kết mạc trong 8 tháng đầu năm 2023 là 15.402 ca, chiếm 24,43% (cùng kỳ năm 2022 có 10.467 ca, chiếm 19,54% tổng số ca bệnh). Trong số trẻ em dưới 16 tuổi mắc bệnh viêm kết mạc, có 288 ca biến chứng, chiếm 1,87% (cùng kỳ năm 2022 có 241 ca biến chứng, chiếm 2,3% tổng số ca bệnh).
- Đau nhức mắt hoặc gặp khó khăn khi nhìn.
- Nhạy cảm với ánh sáng.
- Các triệu chứng đã tiếp diễn trong một tuần trở lên hoặc ngày càng nặng hơn.
- Mắt tiết ra nhiều mủ hoặc chất nhầy.
- Có bất kỳ triệu chứng nhiễm trùng nào khác như sốt, đau họng, nhức đầu.
- Bác sĩ thường có thể chẩn đoán bệnh đau mắt đỏ chỉ bằng các dấu hiệu và triệu chứng phân biệt khi kiểm tra bằng mắt thường với đèn pin hoặc kính loupe trợ giúp. Tuy nhiên, kiểm tra trên “đèn khe khám mắt” có thể được yêu cầu để phát hiện các tổn thương có thể xảy ra trên giác mạc mà mắt thường không thể nhìn thấy được.
- Bệnh nhân được hướng dẫn để liếc mắt lên trên, xuống dưới, ra ngoài, vào trong để lần lượt khám kết mạc phía dưới, phía trên, phía trong, phía ngoài. Lật mi mắt lên để khám mặt sau mi mắt, kéo mi dưới xuống trong khi bệnh nhân liếc lên trên để khám cùng đồ dưới.
- Trong một số trường hợp, một bệnh phẩm (chất tiết) được lấy bằng một que tăm bông từ mắt được gửi đến phòng xét nghiệm để xác định nguyên nhân.
- Bác sĩ thường phải rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh sau khi khám mắt.
- Là bệnh lành tính, tự giới hạn, khi khỏi không để lại di chứng. Tuy nhiên cũng có trường hợp nặng do tác nhân gây bệnh diễn biến phức tạp, tổn thương giác mạc hoặc tái phát.
- Ngoài ra bệnh dịch đau mắt đỏ bị nhầm lẫn với viêm kết mạc cấp nặng gặp trong các trường hợp sau:
- Viêm kết mạc do lậu cầu, não mô cầu, Haemophilus influenza, Herpes Simplex virus, Herpes Zoster virus, Chlamydia vì có biến chứng lên giác mạc hoặc tổn thương các cơ quan khác đi kèm như lậu sinh dục, viêm tai giữa….
- Viêm kết mạc do Heamophilus Influenza: 25% bị viêm tai giữa kèm theo
- Viêm kết mạc do Chlamydia người lớn: 50-70% có nhiễm trùng sinh dục đi kèm; ở trẻ em > 50% có nhiễm trùng phổi, mũi họng, sinh dục.
Ban truyền thông & Marketing